Bài viết dựa trên một nghiên cứu được thực hiện bởi Tiến sĩ Hồ Long Phi (Phó TGĐ enCity), được công bố trong “Kỷ yếu Hội nghị Quốc tế lần thứ 2 về Nước, Đô thị và Thay đổi Toàn cầu” của UNESCO vào tháng 1 năm 2022.
Tiến sĩ Hồ Long Phi là chuyên gia nổi tiếng đã tham gia quy hoạch chiến lược quản lý nước đô thị trong hơn 20 năm. Ông đã chủ trì nhiều dự án nghiên cứu cho Thành phố Hồ Chí Minh, đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh ven biển khác của Việt Nam.
Hơn 2/3 các thành phố có tốc độ phát triển nhanh nhất trên thế giới được xây dựng trên các vùng đồng bằng ven biển trũng thấp. Điều này đem lại nhiều cơ hội phát triển hấp dẫn cho các thành phố này, tạo nên sức hút riêng với nền văn hóa phong phú, khí hậu dễ chịu và tài nguyên thiên nhiên dồi dào. Tuy nhiên, xu hướng đô thị hóa và điều kiện khí hậu hiện nay đã khiến những đô thị này trở nên dễ bị “tổn thương” hơn do tình trạng lũ lụt, ngập úng và hiện tượng mực nước biển dâng cao. Bài viết này cung cấp những thông tin cơ bản từ một nghiên cứu về tình trạng ngập lụt ở Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) – trung tâm kinh tế của Việt Nam, và đưa ra các bài học nhằm giảm thiểu nguy cơ ngập lụt đô thị thông qua những biện pháp phòng chống kịp thời.
Được coi là một trong những siêu đô thị có tốc độ phát triển mạnh mẽ nhất của Đông Nam Á, TP.HCM nằm cách bờ biển 50 km và được xây dựng trên vùng đầm lầy không hợp nhất giữa hai con sông: sông Sài Gòn và sông Đồng Nai. Thành phố có khí hậu gió mùa cận nhiệt đới với lượng mưa trung bình khoảng 2000mm trong mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11). Mặc dù không nằm trong khu vực chịu tác động của bão nhiệt đới, TP.HCM vẫn thường xuyên phải đối mặt với tình trạng mưa đối lưu xảy ra bất thường. Vào khoảng thời gian cao điểm của mùa mưa hàng năm (tháng 9), lượng mưa có thể lên tới hơn 100mm/giờ, tuy nhiên số liệu giữa các quận là khác nhau. Điển hình như số liệu thu được từ trạm Phú An đặt tại trung tâm thành phố cho thấy mực nước triều cường trong thời kỳ gió mùa đạt 1,71 masl (mét so với mực nước biển) vào năm 2017. Theo Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ, mực nước triều cường đã tăng lên đáng kể trong những năm trở lại đây, từ 1,55 masl trong năm 2010 lên 1,68 masl trong năm 2014.
Thách thức từ quá trình gia tăng dân số, mở rộng lãnh thổ và đô thị hóa
Trong những thập kỷ gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc, đi cùng với đó là sự gia tăng dân số thành thị và luồng di cư từ nông thôn ra thành thị. Từ năm 1990 đến năm 2020, dân số của TP.HCM đã tăng hơn gấp đôi từ 4,1 triệu lên 8,7 triệu người. Con số này ước tính lên tới gần 13 triệu người nếu tính cả những người chưa đăng ký cư trú chính thức và những người hàng ngày di chuyển đến chỗ làm trong thành phố từ các tỉnh lân cận. Với tốc độ tăng trưởng hàng năm dự kiến là 3%, TP.HCM đang phải “vật lộn” để phát triển cơ sở hạ tầng, đáp ứng kịp thời với sự gia tăng nhanh chóng của dân số và các hoạt động đô thị.

Quá trình mở rộng TP.HCM từ năm 1990 đến 2007 (Nguồn: VCAPS 2013 in Tranh Ngoc et al, 2015)
Cùng với tốc độ đô thị hóa nhanh, TP.HCM đã có nhiều lần mở rộng lãnh thổ trong suốt quá trình phát triển. Điều này tác động đáng kể đến môi trường tự nhiên xung quanh của thành phố, đặc biệt là mạng lưới nước tự nhiên. Trong thời kỳ Pháp thuộc, những con kênh cắt ngang trung tâm thành phố đã bị lấp và thay thế bằng những đại lộ hai hàng cây. Ngoài ra, đất đầm lầy và đất nông nghiệp được sử dụng để xây dựng các khu dân cư. Hiện tại, phần mở rộng tại các khu vực phía Đông Bắc, Đông Nam và Tây Nam được xây dựng trên các đầm lầy và cánh đồng lúa cũ với độ cao thấp 0,5-2,0 masl. TP.HCM hiện nằm trong số 20 siêu đô thị hàng đầu trên thế giới, tuy nhiên 50% dân số của thành phố hiện đang sống tại các khu vực trũng thấp, dễ bị ảnh hưởng bởi ngập lụt.
Với điều kiện thời tiết của TP.HCM và mực nước triều cường ngày một dâng cao, tình trạng ngập lụt tại đây đã trở thành một hiện tượng thường xuyên, xảy ra hàng năm và mang tính chất nghiêm trọng. Dựa trên một nghiên cứu của Hiệp hội Đối tác Thích ứng với Khí hậu Việt Nam (VCAPS), ngập lụt ở TP.HCM có thể được phân loại thành hai loại dựa theo hình thái không gian khác nhau: i) tại các quận trung tâm đô thị do dòng chảy trên bề mặt đất đô thị; và, ii) dọc theo các bờ sông và các vùng đất thấp ngoại vi. Nguyên nhân chủ yếu là do tác động tổng hợp của triều cường và dòng chảy của các con sông lớn. Cả hai trường hợp xảy ra đều do các tác động trực tiếp từ quá trình đô thị hóa.

Phân loại nguồn gốc lũ lụt ở TP.HCM (Nguồn: VCAPS 2013; xuất bản trong Vachaud et al.2018)
Phát triển đô thị và Ngập lụt
Nghiên cứu đã chỉ ra 4 tác động trực tiếp của quá trình phát triển đô thị lên tình trạng ngập lụt:
- tạo ra một hiệu ứng đảo nhiệt đô thị, làm tăng cường độ mưa;
- giảm bề mặt thấm và làm tăng dòng chảy trên bề mặt;
- hệ thống thoát nước kém do không được bảo dưỡng đầy đủ, thiếu ý thức của người sử dụng và mạng lưới phân phối nước thải kém;
- gây ra hiện tượng sụt lún đất, cản trở dòng nước tự nhiên của sông ngòi.
Vì TP HCM là một trong những thành phố có mật độ cao nhất thế giới, chính quyền và các nhà phát triển đô thị luôn phải cố gắng để giải quyết tình trạng quá tải, thông qua việc xây dựng các tòa nhà cao tầng với hệ thống điều hòa không khí và những tuyến đường mới trong thành phố, phục vụ cho 7,6 triệu xe máy và 700 nghìn ô tô. Do đó, hệ số hấp thụ nhiệt của bê tông, hệ số phản xạ của mái nhà và đường xá giảm mạnh. Bên cạnh đó, việc các phương tiện giao thông và điều hòa không khí tỏa nhiệt khi hoạt động cũng góp phần tạo ra hiệu ứng đảo nhiệt đô thị.
Một hệ quả khác của sự phát triển đô thị ồ ạt tại TP.HCM là các bề mặt thấm cần thiết để hấp thụ nước mưa dần dần biến mất. Hiện tại, 90% không gian đô thị hóa của thành phố là bề mặt cứng, một trong những nguyên nhân chính dẫn đến ngập lụt. Việc bảo trì và quản lý hệ thống thoát nước của thành phố còn hạn chế cũng là nguyên nhân khiến cho vấn đề ngày một nghiêm trọng. Hệ thống vệ sinh và xử lý nước mưa hiện nay chưa được chú trọng, hệ thống kênh rạch mới mở không đem lại nhiều kết quả do những tác động từ những khu dân cư phi chính thức và việc xử lý chất thải rắn lắng đọng không đúng cách.
Cuối cùng, nền đất tại TP.Hồ Chí Minh đang trong tình trạng bị sụt lún do việc khai thác quá tải nguồn nước ngầm, không phù hợp với điều kiện địa chất tự nhiên. Do nền đất ở TP.HCM là cát và đất sét mềm nên việc xây dựng và khai thác ồ ạt sẽ gây ra hiện tượng lún và nứt bề mặt. Việc bơm nước ngầm trái quy định diễn ra hàng ngày làm cho tình trạng này trở nên nghiêm trọng hơn. Đồng thời, độ dốc của dòng chảy từ vùng nội đô và ngoại ô của thành phố ra sông và đại dương đang ngày một giảm, gây khó khăn cho hệ thống thoát nước tự nhiên.
Với việc tiếp tục mở rộng sang các khu vực có nền đất thấp gần bằng mực nước trung bình của các con sông và tốc độ sụt lún ngày càng tăng nhanh, tình trạng ngập lụt là không thể tránh khỏi khi mực nước biển dâng cao. Tình trạng ngập lụt thường xuyên đã làm dấy lên lo ngại về những về rủi ro kinh tế và con người trong tương lai ở TP.HCM và toàn bộ khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Hiện tượng giãn nở nhiệt xảy ra trong nước biển và sự tan băng của các điểm cực là hậu quả của việc biến đổi khí hậu. Đây cũng chính là một trong số các nguyên nhân chủ yếu gây ra hiện tượng mực nước biển dâng trên toàn cầu.
Những phân tích và phát hiện chuyên sâu hơn của nghiên cứu được trình bày trong tài liệu này (xem trang 70).
Tiếp cận tích hợp hơn trong quy hoạch dài hạn đô thị đa ngành
Hiện tại, cách tiếp cận của chính quyền là nghiêng về các chiến lược ngắn hạn trong hai bản quy hoạch chính: “Quy hoạch tổng thể hệ thống thoát nước đô thị” (Quyết định 752) năm 2001, và “Quy hoạch tổng thể về thủy lợi và kiểm soát lũ lụt” (Quyết định 1547) năm 2008. Cả hai đều tập trung vào phát triển và cải thiện cơ sở hạ tầng; bồi lấp các vùng trũng thấp, khai thông hệ thống cống, kênh tiêu bị tắc nghẽn, đầu tư trang thiết bị để bơm thoát lũ và xây dựng hệ thống cống, đê ngăn lũ ven sông, ven biển.
Việc dựa vào những dữ liệu cũ gây ra những hạn chế trong việc triển khai những giải pháp nêu trên do biến đổi khí hậu rất dễ thay đổi. Để ngăn chặn những nguy cơ và tổn thất có thể dự báo trước, các biện pháp thích ứng cần được thực hiện thông qua sự chỉ đạo mạnh mẽ từ chính quyền. Do đó, một cách tiếp cận linh hoạt hơn là vô cùng cần thiết nhằm thích ứng với quy hoạch đô thị đa ngành dài hạn. Điều này đòi hỏi sự tham gia đồng thời của các nhà khoa học, quy hoạch sư, kỹ sư, các nhà kinh tế và chính trị gia để xác định các chiến lược tốt nhất giữa thích ứng và tái định cư.
Một số giải pháp bổ sung cho phương pháp này được liệt kê dưới đây:
- Hạn chế sụt lún thông qua việc phát triển hệ thống phân phối nước hiệu quả. Chính phủ có thể ban hành các chính sách hạn chế hoặc cấm bơm nước ngầm để giảm độ lún. Điều này cũng có thể bao gồm các biện pháp lưu trữ nước mưa và mở rộng tầng chứa nước.
- Giảm hiệu ứng đảo nhiệt đô thị bằng kiến trúc bền vững. Việc bổ sung các mái nhà xanh có thể góp phần làm giảm nhiệt độ trong thành phố. Giảm nhiệt độ khí quyển đô thị cũng sẽ giúp làm giảm lượng mưa đối lưu, từ đó làm giảm điều kiện hình thành lũ lụt.
- Điều chỉnh các chính sách theo hướng mở rộng vai trò của các dịch vụ sinh thái. Không gian cho vành đai xanh-xanh có thể được phân bổ trong các siêu đô thị và có thể là yếu tố bắt buộc đối với các dự án phát triển mới. Các khu vực tự nhiên và công viên có thể đóng vai trò như các lưu vực đa chức năng để giữ nước mưa và cân bằng lưu lượng dòng chảy thủy triều.
Đô thị hóa mất kiểm soát sẽ tiếp tục gây ra nhiều rủi ro trong tương lai nếu chúng ta không có một cách tiếp cận mang tính chiến lược hơn để giảm thiểu nguy cơ tiềm ẩn cho các thành phố và dân cư đô thị. Các nhà hoạch định chính sách của TP.HCM cần phải thúc đẩy việc quy hoạch tổng hợp và bền vững bằng cách thu hút các chuyên gia từ nhiều lĩnh vực (như kinh tế, kỹ thuật, sinh thái và thiết kế) cùng tham gia vào quá trình. Bên cạnh các giải pháp định hướng phát triển cơ sở hạ tầng, chúng ta cần có những hành động kịp thời từ góc độ tổng thể để giải quyết các nguy cơ khác nhau gây ra ngập lụt và sụt lún đất ở đô thị.
Là một nhà cung cấp giải pháp đô thị hàng đầu, enCity tập trung vào nghiên cứu và ứng dụng các giải pháp cơ sở hạ tầng xanh-xanh cũng như các chính sách và khung quản lý đô thị để xây dựng khả năng chống chịu của đô thị, đặc biệt là những khu vực dễ bị tổn thương do thiên tai, khí hậu. Đây là cam kết dài hạn của enCity nhằm phát triển các giải pháp sáng tạo và hiệu quả nhằm giảm thiểu tác động của thiên tai đối với các tỉnh miền Trung và các tỉnh thành khác của Việt Nam, và xa hơn nữa là góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân loại chống lại biến đổi khí hậu. Điều này được xây dựng dựa trên những công việc mà enCity đã làm trước đây, điển hình là việc xây dựng khung MOTA (khung Động lực và Khả năng), được áp dụng cho quy hoạch chiến lược trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Trong cuộc trò chuyện trước đây với Tiến sĩ Hồ Long Phi, ông đã gợi ý rằng cần phải có một cách tiếp cận lập kế hoạch mới để thích ứng với tình trạng này tại các đô thị lớn.


EN