KTS. Vương Phan Liên Trang
PTGĐ, enCity Urban Solutions

1. Đặt vấn đề

Mô hình đô thị nén được quan tâm ngày càng nhiều hơn trong thời gian gần đây, và được một số người cho là giải pháp phát triển đô thị trong bối cảnh cần phát triển theo chiều dọc chứ không chỉ dàn trải theo chiều ngang nhằm tiết kiệm và tối ưu hiệu quả các nguồn lực như đất đai và hạ tầng. Một số người lại cho rằng đô thị nén gây ra nhiều hậu quả quá tải hạ tầng, ách tắc giao thông, thiếu trường học, bệnh viện… Bản thân tác giả bài viết cũng vừa được Đài Phát thanh & Truyền hình Hà Nội phỏng vấn trong phóng sự tài liệu mới đây ngày 15 tháng 4 mang tên “Đô thị nén”, với nhiều câu hỏi quan ngại về một số khu chung cư được coi là nén ở Thủ đô [1]. Bài viết này làm rõ thêm một số quan điểm xung quanh việc (i) đô thị nén về mặt lí thuyết và thực tiễn có những gì đáng lưu ý, đặc biệt khi bối cảnh các đô thị lớn của Việt Nam khác với nơi lý thuyết đô thị nén ra đời và phát triển, và (ii) một số đặc trưng trong hiện trạng quy hoạch chung Thành phố Hồ Chí Minh, làm cơ sở cho việc đề xuất mô hình phát triển phù hợp.

2. Lý thuyết đô thị nén và thực tiễn ở Việt Nam

Thứ nhất, như nhiều thuật ngữ khoa học xã hội khác, đô thị nén có nhiều cách định nghĩa và tiếp cận, trong đó có một số nhận định và đặc điểm được đa số đồng thuận. Các đặc điểm đó bao gồm (1) mật độ dân cư cao, (2) phát triển theo chiều cao (vì vậy thường dẫn đến hình ảnh đặc trưng gây ấn tượng trong mắt số đông là các nhà cao tầng), (3) sử dụng đất hỗn hợp, đa dạng công năng, trong đó chú trọng không gian xanh, không gian công cộng, các dịch vụ và tiện ích cho người dân, và (4) ít sử dụng phương tiện cơ giới cá nhân, khuyến khích đi bộ, xe đạp, giao thông công cộng, tiết kiệm tài nguyên và năng lượng.

Thuật ngữ đô thị nén được cho là ra đời vào năm 1973 bởi hai tác giả Dantzig và Saaty với viễn cảnh và mong muốn về việc sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn. Theo đó, đô thị nén là đô thị có (1) mật độ dân cư cao, (2) phát triển về chiều cao, (3) có đầy đủ các dịch vụ để tự phục vụ nhu cầu của người dân, (4) sử dụng đất hỗn hợp, đa chức năng, và (5) ít phụ thuộc vào ô tô cá nhân, người dân có thể đến các nơi cần thiết bằng đi bộ, xe đạp, và giao thông công cộng [2].

Tương tự, trong Tạp chí Quy hoạch Xây dựng số 94/2018 về đề tài “nén, nhỏ gọn hay tăng trưởng thông minh”, các chuyên gia cũng đã tái khẳng định đô thị nén là hình thái đô thị (1) tiêu thụ tiết kiệm tài nguyên và năng lượng, (2) ít sử dụng xe hơi, chú trọng giao thông công cộng, khuyến khích đi bộ và xe đạp, (3) mật độ cao, hệ số sử dụng đất cao, hệ số sử dụng hạ tầng cao, sử dụng đất đa dạng công năng, nhiều lựa chọn dịch vụ, có thể có các dịch vụ giá rẻ hơn nhờ tính tập trung và hiệu quả, và (4) kiến trúc linh hoạt, không gian đa dạng, các tòa nhà cao tầng được quy hoạch bài bản [3].

Thứ hai, khái niệm đô thị nén vốn xuất phát từ các nước phương Tây, được cổ vũ nhiệt tình bởi những tác giả muốn giải quyết vấn đề của đô thị dàn trải, quá chú trọng hạ tầng cho ô tô, giải phóng mặt bằng ồ ạt làm mất đi nhiều khu dân cư có bản sắc, thiếu tính đa dạng trong thiết kế và bố trí công trình [4]. Trong khi đó, với bối cảnh các đô thị lớn ở Việt Nam, vốn đã có mật độ cao, tính đa dạng, tính cộng đồng, sẽ cần xem xét các khía cạnh sau đây nhiều hơn khi xác định phát triển đô thị nén: (1) khả năng phát triển được đường sắt đô thị với mật độ đủ cao (nên tối thiểu là 160 người/ha), các chính sách đủ khuyến khích, các quy hoạch và thiết kế đủ tiện lợi cho người dân sử dụng, (2) khả năng bố trí được không gian cho các hạ tầng xã hội và tiện ích đô thị, (3) đảm bảo chất lượng nhà ở (Singapore đã tổng kết kinh nghiệm không nên xây khu chung cư với hệ số sử dụng đất cao hơn 6.0 để giữ được môi trường sống dễ chịu, không quá đông đúc, ồn ào, và đảm bảo bố trí đủ thang máy), và (4) sự cân bằng giữa việc lựa chọn mật độ cao và việc khai thác các quỹ đất mới (các đô thị ở Việt Nam thường còn quỹ đất ở ngoại vi nên có nhiều sự lựa chọn hơn những đô thị bắt buộc phải nén như Singapore và Hong Kong).

Thứ ba, mô hình đô thị nén, tuy có những đặc điểm tốt đẹp và mục tiêu tích cực như trên, không có nghĩa là áp dụng được cho mọi đô thị hay toàn bộ đô thị, đặc biệt với những đại đô thị như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM), bởi bản chất của đô thị lớn là sự phức tạp, đa dạng, bao gồm nhiều thành phần, bộ phận với các tính chất khác nhau, cần những chiến lược, giải pháp và chỉ tiêu khác nhau cho mỗi khu vực cụ thể. Thực tế, các đô thị lớn tại những nước đang phát triển như Việt Nam đã đạt mật độ dân số nội thành rất cao, tại nhiều khu vực còn cần giãn dân, giải nén, chỉ có thể khuyến cáo mật độ cao gần nhà ga, dọc theo các tuyến giao thông công cộng (phát triển TOD). Hình 1 cho thấy sự chênh lệch rất lớn giữa mật độ dân số các quận của TPHCM, trong đó nhiều quận nội thành còn cao hơn cả mật độ cao nhất của Singapore, quốc đảo và cũng là thành phố thường được coi là ví dụ tiêu biểu của đô thị nén có chất lượng sống tốt [5] [6]. Ngoài khái niệm nén, nhỏ gọn hay tăng trưởng thông minh, còn nhiều các khái niệm, mô hình khác cũng có những mục tiêu và khả năng áp dụng tương tự (nghĩa là cũng có thể áp dụng vào một hay nhiều phần của đô thị) như chủ nghĩa đô thị mới (new urbanism), đô thị thông minh, đô thị sinh thái, đô thị sống khỏe (healthy city), đô thị sống tốt (livable city), đô thị 15 phút (15-minute city), đô thị 20 phút (20-minute city)… trong đó mỗi mô hình có những trọng tâm, điểm nhấn riêng.

Hình 1. Mật độ dân số (người/ha) các quận TPHCM. Nguồn: enCity.

Thứ tư, mỗi mô hình hay phương án đều tiềm ẩn hai xu hướng tạo ra kết quả tích cực và hậu quả tiêu cực, phụ thuộc vào việc triển khai trong thực tế. Nếu muốn xác định hiệu quả đầu tư phát triển đô thị, cần có phân tích một cách định lượng trong mối quan hệ tổng thể các yếu tố kinh tế xã hội môi trường và cả pháp lý. Ví dụ, ngoài các chỉ tiêu về môi trường xây dựng như hệ số sử dụng đất, hệ số mật độ đường, diện tích giao thông trên đầu người, diện tích cây xanh trên đầu người, mức độ ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm không khí… còn cần các chỉ tiêu về kinh tế, tài chính như chi phí đền bù, lợi nhuận đầu tư, giá thành dịch vụ…, và các chỉ tiêu xã hội như nguy cơ bị mất hoặc ảnh hưởng đến sinh kế, việc làm, khả năng tiếp cận hạ tầng. Nghĩa là, nếu không có cái nhìn một cách tổng thể, việc nhận xét dễ trở thành nhận định cảm tính, ví dụ nhà cao tầng thường bị kết tội là thủ phạm của số lượng lớn ô tô, tắc đường, ô nhiễm. Thực tế, nếu phát triển được mật độ cao xung quanh nhà ga, dọc tuyến giao thông công cộng, khuyến khích được đi bộ, xe đạp, nhà cao tầng chính là một phần của lời giải cho vấn đề ách tắc, mà giao thông công cộng muốn phát triển lại cần mật độ đủ cao [7] [8]. Tại một quận của Singapore, cùng diện tích tương đương như quận Đống Đa, có 100% công trình nhà ở là chung cư cao tầng, vậy mà dân số chỉ bằng 2/3 quận Đống Đa, trong khi quận Đống Đa trong thời gian dài chủ yếu là nhà thấp tầng nhưng mật độ dân số vẫn cao gấp rưỡi, không gian xanh và không gian công cộng thấp hơn và giao thông công cộng rất yếu nếu so với Singapore. Đó là một ví dụ cho thấy việc so sánh, nhận định cần phải có bối cảnh và mục tiêu.

Thứ năm, không nên đánh đồng các công trình, khu vực sai phạm với đô thị nén hay một mô hình lý thuyết nào. Trong nhiều trường hợp, đó là phá vỡ nguyên tắc thiết kế, vi phạm pháp luật về quy hoạch và xây dựng, yếu kém trong công tác thực hiện, quản lí, vận hành của nhà đầu tư. Không công bằng khi gọi những chung cư vượt tầng như HH Linh Đàm là ví dụ của đô thị nén, đây đơn giản là sai phạm chứ không có đầy đủ các đặc điểm, tính chất và mục tiêu của đô thị nén.

Thứ sáu, trong quá trình nghiên cứu, lập quy hoạch và đề ra chiến lược, chương trình phát triển tại các đô thị lớn, cần nhận diện được những đặc điểm hiện trạng thể hiện sự khác biệt, bản chất của đô thị, làm cơ sở cho việc đề xuất mô hình phát triển phù hợp. Ví dụ, TPHCM có nhiều đặc trưng cho thấy một phần bản chất của đô thị nén đã có trong hiện trạng thành phố, khi mà người dân có thời gian di chuyển đi làm ngắn nhất, khả năng tiếp cận việc làm tốt nhất khi so sánh với các đô thị lớn khác trong vùng Đông Nam Á, các chức năng và hình thái công trình đa dạng, phong phú, chất lượng đô thị về mặt kinh tế, hạ tầng, môi trường tương đối kém nhưng về mặt xã hội là rất hấp dẫn. Mô hình phát triển tiếp theo của thành phố cần tiếp tục khai thác các đặc trưng vốn có này.

Cụ thể, TPHCM là đô thị có số lượng lớn các doanh nghiệp nhỏ, tỉ lệ các doanh nghiệp nhỏ, dưới 50 lao động, trên tổng số doanh nghiệp, là 98%, cao hơn Đà Nẵng, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, và Bình Dương. Trong đó, doanh nghiệp siêu nhỏ, dưới 5 lao động, chiếm tới 63%. Nếu sử dụng các tiêu chí về doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ theo Nghị định 80/2021/NĐ-CP, tỉ trọng các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ còn có thể hơn 98%.

Hình 2. So sánh cơ cấu doanh nghiệp theo số lượng lao động tại các tỉnh thành. Nguồn: NGTK.

Hình 3. Hiện trạng phân bố thương mại dịch vụ tại TPHCM. Nguồn: Google Maps.

Với cơ cấu doanh nghiệp nhỏ chiếm đa số (Hình 2) và hiện trạng phân bố thương mại dịch vụ phân tán và xen kẽ khắp các khu dân cư (Hình 3), TPHCM cần có các chiến lược phát triển tiếp theo theo hướng khai thác các điều kiện hiện có, lựa chọn mô hình đô thị phù hợp với nền kinh tế được cấu thành bởi lực lượng lớn các doanh nghiệp nhỏ và phân tán. Đó là một mô hình có quy hoạch sử dụng đất linh hoạt, đa chức năng, dễ tiếp cận. Đồng thời, thành phố cần tiếp tục bổ sung hạ tầng và bố trí quỹ đất để thu hút doanh nghiệp lớn.

Bên cạnh đó, thời gian di chuyển tại TPHCM là tốt nhất so với các đô thị lớn trong khu vực (Singapore, Kuala Lumpur, Bangkok, Jakarta). Cùng với chi phí sinh hoạt ở mức độ tương đối tốt, kết nối vùng và quốc tế ở mức độ khá, đây là tiền đề gợi ý cho việc phát triển đô thị mở, đa tâm với sử dụng đất đa chức năng linh hoạt, ưu tiên giao thông công cộng, giao thông xanh, hệ thống đường vành đai và xuyên tâm hoàn chỉnh.

Hình 4. Biểu đồ 3 chiều so sánh 4 nhóm chỉ số xã hội, môi trường sống, hạ tầng và kinh tế: Xếp hạng trong khu vực, Mức độ ảnh hưởng và Xu hướng phát triển. Nguồn: enCity.

Ngoài ra, TPHCM là đô thị mật độ cao, cần cấu trúc có khả năng phân bố các trung tâm việc làm. Các bài học quốc tế cho thấy cấu trúc đô thị tốt, giúp thúc đẩy phát triển kinh tế, là cấu trúc có khả năng phân bố các trung tâm việc làm. Các đô thị có mật độ dày đặc tương tự TPHCM như Tokyo hay Singapore đều có đặc điểm chung này. Cấu trúc đô thị Tokyo bao gồm một trung tâm thành phố và các trung tâm phụ đóng vai trò là trung tâm việc làm và thương mại [9].

Hình 5. Bản đồ các trung tâm việc làm tại Tokyo. Nguồn: enCity.

Cấu trúc đô thị Singapore cũng bao gồm một trung tâm thành phố, ba trung tâm vùng với hệ thống các điểm phát triển công nghiệp, dịch vụ xung quanh mỗi trung tâm này [10].

Hình 6. Bản đồ các trung tâm việc làm tại Singapore. Nguồn: enCity.

Đó là một số ví dụ trong rất nhiều các luận cứ để tổng hợp nghiên cứu, góp phần đề xuất quy hoạch phát triển TPHCM trên cơ sở phát huy, khai thác các đặc trưng vốn có, hướng tới tầm nhìn 2045 đã đặt ra trong Nghị quyết số 31-NQ/TW năm 2022: “phát triển ngang tầm các đô thị lớn trên thế giới, trở thành trung tâm kinh tế, tài chính, dịch vụ của Châu Á; là điểm đến hấp dẫn toàn cầu; kinh tế, văn hoá phát triển đặc sắc, người dân có chất lượng cuộc sống cao; là hạt nhân của vùng Thành phố Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ, cực tăng trưởng của cả nước; nơi thu hút các định chế tài chính và tập đoàn kinh tế quốc tế” [11]. Với đề xuất mới nhất, tương lai của TPHCM là “Thành phố hợp lưu”, nơi thiên nhiên giao hòa, nhân tài hội tụ & cơ hội lan tỏa, một thành phố đầy sức sống, nơi thiên nhiên, cơ hội và tiện ích lan tỏa đến từng không gian sống trong bán kính 15 – 20 phút di chuyển, nơi doanh nghiệp, doanh nhân và du khách có thể kết nối từ cảng biển, sân bay đến rừng ngập mặn trong vòng 15 – 20 phút [12]. Thành phố được tổ chức không gian theo mô hình đô thị đa trung tâm: đa tâm, đa dạng không gian sinh thái, hội tụ nguồn lực phát triển đô thị bởi sông Sài Gòn và các trục phát triển, và lan tỏa cơ hội kinh tế theo các vành đai và hành lang kinh tế biển. Trong đó, xác định các lưu vực sống (đô thị 15-20 phút, 15-20-minute city) dựa trên việc khai thác tiềm năng, cơ hội của các phân vùng đô thị và nhằm gắn với các trung tâm thương mại, dịch vụ và việc làm tại mỗi khu vực hoặc trung tâm đô thị. Các trung tâm đô thị và khu vực được kết nối bằng các tuyến giao thông công cộng quy mô lớn và các tuyến trục giao thông chính đường bộ, đường thuỷ. Những lưu vực sống và làm việc trong bán kính khoảng 5km, tương đương 15-20 phút di chuyển (khu vực nông thôn có bán kính lớn hơn). Sẽ có khoảng 60 lưu vực sống như vậy và được gắn với các trung tâm việc làm và khả năng tiếp cận giao thông công cộng. Mô hình đô thị 15-20 phút này có những đặc điểm và mục tiêu giống đô thị nén về khả năng tiếp cận tới các công trình, hạ tầng, tiện ích, về sử dụng đất đa chức năng, tuy nhiên có sự khác biệt là nhấn mạnh vào kết quả thời gian di chuyển thay vì nhấn mạnh vào mật độ. Trong khi đô thị nén chỉ phù hợp với khu vực trung tâm, lưu vực sống có thể áp dụng ở cả ngoại vi và nông thôn.

Hình 7. Đề xuất các lưu vực sống và làm việc trong bán kính khoảng 5km, 15-20 phút di chuyển (15-20-minute city) tại TPHCM. Nguồn: enCity.

3. Kết luận

Mô hình đô thị nén đã nhận được nhiều quan tâm trong thời gian gần đây với mong muốn sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực. Tuy nhiên, trong bối cảnh các đô thị lớn của Việt Nam vốn rất khác với các đô thị phương Tây, nơi khái niệm đô thị nén ra đời và phát triển, cần có sự cân nhắc kỹ lưỡng khi áp dụng. Các yếu tố như khả năng phát triển đường sắt đô thị, bố trí hạ tầng xã hội, đảm bảo chất lượng nhà ở và cân bằng giữa mật độ cao với khai thác quỹ đất  cần được xem xét đầy đủ.

Với những nét đặc trưng hiện hữu như tỉ lệ cực lớn các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, thời gian di chuyển ngắn, khả năng tiếp cận việc làm tốt nhất trong khu vực và mật độ cao, TPHCM cần khai thác, tận dụng các yếu tố này. Cấu trúc đô thị nên có khả năng phân bố các trung tâm việc làm để khai thác tiềm năng kinh tế hiện có. Tầm nhìn “Thành phố hợp lưu” được đề xuất với mô hình tổ chức không gian đô thị đa tâm và các lưu vực sống và làm việc trong bán kính khoảng 5km (15-20 phút di chuyển) gắn với trung tâm việc làm, kết nối bởi giao thông công cộng, kết hợp các ưu điểm của đô thị nén nhưng phù hợp hơn với thực tế và tầm nhìn của thành phố.

Mô hình đô thị nén mang những lợi ích nhất định nhưng cần được điều chỉnh linh hoạt theo bối cảnh từng đô thị. Việc nhận diện đặc trưng riêng của đô thị và lựa chọn mô hình phù hợp mới có thể giúp đạt mục tiêu phát triển bền vững, nâng cao chất lượng sống cho người dân.

Tài liệu tham khảo:

  1. Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội, Đô thị ‘Nén’, Phóng sự tài liệu 15/04/2024
  2. Dantzig and Saaty (1973), Compact city: A plan for a livable Urban Environment, San Francisco
  3. Nhiều tác giả (2018), Tạp chí Quy hoạch Xây dựng số 94/2018
  4. Jane Jacobs (1961), The Death and Life of Great American Cities
  5. Timothy Seto and Brenda Yeung (2010), Singapore: A Model of Successful Dense Urbanism
  6. Christopher Bryant (2016), Singapore’s Compact City: A Case Study in Sustainable Urban Development
  7. Litman and Cervero (2000), Public Transport and Land Use Planning: A Review of the Literature
  8. Cervero and Gottlieb (2009), The Density and Productivity of Public Transport: A Meta-Analysis
  9. Angel Moya and Luis Moya (2014), The Polycentric Urban Development of Tokyo: A Comparative Analysis with Other Major Cities in the World
  10. Yeh, A. G. O. (2004), Singapore’s Polycentric Urban Region: The Dynamics of Spatial Transformation
  11. Nghị quyết số 31-NQ/TW ngày 30/12/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
  12. enCity và liên danh tư vấn (2024), Dự thảo Quy hoạch chung TPHCM đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2060.