Tác giả: Nguyễn Đỗ Dũng, TGĐ enCity
Điều chỉnh Quy hoạch chung (QHC) Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2040, tầm nhìn 2060 thiết lập cấu trúc không gian mới dựa trên sáu vùng đô thị. Bài viết luận giải cơ sở khoa học, mục tiêu và giải pháp của mô hình này.
Vì sao cần tái cấu trúc không gian?
- Quá tải hạ tầng tại lõi trung tâm: mật độ cư trú vượt 30 000 người/km² tại một số quận nội đô, gần bằng các khu vực đô thị đông đúc nhất trên thế giới ở Hongkong (Trung Quốc), Mumbai (Ấn Độ) và Manila (Philippines).
- Hiệu suất di chuyển thấp: trong giờ cao điểm, thời gian đi lại trung bình đạt 42 phút/lượt – cao hơn Bangkok và Tokyo mặc dù tỷ lệ sở hữu xe hơi thấp hơn nhiều (số liệu Sở GTVT TPHCM, 2024).
- Rủi ro ngập lụt: 23 % diện tích đô thị thấp hơn mực nước triều lịch sử; trận mưa 180mm/3 giờ tháng 10‑2024 gây ngập ≥ 30 cm tại 71 tuyến. Để thích ứng với ngập lụt gây ra do Biến đổi khí hậu sẽ cần những ứng xử khác nhau cho các khu vực khác nhau.
- Phân bố việc làm, dịch vụ chưa đồng đều; khu vực ngoại vi thiếu trung tâm việc làm quy mô lớn ngoài lĩnh vực sản xuất.
- Gia tăng khả năng tiếp cận không gian mở: với việc tái phân bố phát triển ra vùng ngoại vi nơi có quỹ đất và cảnh quan thiên nhiên để hình thành các công viên lớn, người dân sẽ có cuộc sống gần hơn với môi trường xanh.
Bài học thế giới:
Singapore áp dụng cấu trúc “đa vùng – đa trung tâm” (polycentric planning). Đảo quốc được chia thành 5 vùng bao gồm vùng Trung tâm, vùng phía Đông, vùng phía Tây, vùng phía Bắc và vùng Đông Bắc. Trong mỗi vùng, URA xác lập một trung tâm vùng (regional centre) như Tampines ở vùng phía Đông và Jurong East ở vùng phía Tây – nơi tập trung việc làm, thương mại, dịch vụ công cộng tập trung xung quanh một ga trung chuyển (kết nối 2-3 tuyến đường sắt nội đô). Quy mô này tương đương “trung tâm vùng” trong sáu vùng đô thị Tp Hồ Chí Minh. Nỗ lực này, cùng với tác động của phí lái xe vào trung tâm, cắt giảm lượng xe vào CBD giảm ≈ 20–25 %.
Seoul tổ chức thủ đô thành 5 vùng sinh hoạt. Mỗi vùng có một trung tâm cấp thành phố (ví dụ Gangnam ở vùng Đông Nam), kết nối bằng 23 tuyến tàu điện ngầm và hành lang phát triển định hướng giao thông công cộng. Hệ thống đa cực giúp duy trì hơn 60 % các chuyến đi bằng giao thông công cộng, giữ đa số hành trình dưới 1 giờ (2021) và mở rộng mảng xanh lên 18,74 m²/người vào năm 2023.
Tokyo phân chia Thủ đô thành 3 vùng lớn: (i) Khu trung tâm 23 quận đặc biệt; (ii) Vùng đô thị phía Tây (Tama); và (iii) Vùng đảo vịnh Tokyo (Izu‑Ogasawara). Trong Khu trung tâm, thành phố xác lập ba trung tâm phụ Shinjuku – Shibuya – Ikebukuro bên cạnh trung tâm lịch sử Marunouchi, các trung tâm này được kết nối bởi tuyến đường sắt vòng Yamanote và 2 tuyến metro xuyên tâm. Mạng lưới đa trung tâm góp phần giảm 23 % phát thải CO₂ so với mức cơ sở sau bốn năm triển khai.
Sáu vùng đặc trưng của Tp Hồ Chí Minh
![]() Hình 2: Các khu vực có rủi ro ngập khác nhau cần ứng xử khác nhau. Nguồn: enCity thực hiện cho đồ án Điều chỉnh Quy hoạch chung Tp Hồ Chí Minh đến năm 2040, tầm nhìn 2060 | ![]() Hình 3: Các vùng cảnh quan sinh thái khác nhau của Tp Hồ Chí Minh, phần lớn tách biệt với trải nghiệm đô thị hiện hữu. Nguồn: enCity thực hiện cho đồ án Điều chỉnh Quy hoạch chung Tp Hồ Chí Minh đến năm 2040, tầm nhìn 2060 |

Tp Hồ Chí Minh bao hàm một phổ cảnh quan hiếm có trong cùng một thành phố: dải đô thị di sản ven sông Sài Gòn ở lõi trung tâm; bán đảo Thủ Thiêm và phía Nam thành phố Thủ Đức có hệ sinh thái mặt ngập nước trong lòng đô thị; Bình Chánh có hệ thống kênh rạch ô bàn cờ để dẫn nước vào đồng ruộng; vùng đất xám Củ Chi gắn với đồn điền cao su và nông nghiệp chuyên canh; Nhà Bè là một vùng đầm lầy ngập nước, là túi chứa nước phía Nam thành phố; và tận cùng phía Nam thành phố là khu bảo tồn sinh quyển Cần Giờ rộng 35.000 ha. Mỗi vùng mang cấu trúc địa mạo, thổ nhưỡng và hệ sinh thái riêng, song hiện mới gắn với hoạt động nông nghiệp và du lịch ở quy mô nhỏ mà chưa tạo ra trải nghiệm sống khác biệt cho cư dân thành phố. Mỗi dải cảnh quan và sinh thái cũng cần ứng xử khác nhau trong việc thích ứng với rủi ro ngập lụt. Các khu vực cao ở phía Bắc thành phố cần có hồ điều hòa tại chỗ nhằm giảm tốc độ và quy mô dòng chảy xuống hạ lưu. Các khu vực đã phát triển đô thị ở vùng thấp cần được bảo vệ bằng đê bao và cống ngăn triều cũng như gia tăng năng lực trữ nước tại chỗ. Trong khi đó các khu vực phát triển mới ở vùng thấp cần theo đuổi mô hình thích nghi nhằm giảm chi phí đầu tư, giảm tác động tới vùng hiện hữu trong khi vẫn giữ được đặc trưng cảnh quan.
Ở một góc độ khác, mặc dù dân số đang tập trung chủ yếu ở khu vực nội đô lịch sử, các vùng ven đang có tốc độ tăng dân số chóng mặt dẫn đến nhu cầu cung cấp hạ tầng và tiện ích cho khu vực này. Bên cạnh đó nếu thiếu một chiến lược phát triển đô thị ‘may đo’ cho mỗi khu vực, mở rộng đô thị sẽ chỉ đồng nghĩa với bê-tông hóa, xóa nhòa bản sắc và mang lại hệ quả xấu về môi trường. Đồng thời, các trung tâm việc làm và tiện ích vẫn tập trung ở khu trung tâm dẫn đến quá tải hạ tầng giao thông nhằm đáp ứng nhu cầu di chuyển từ ngoại vi vào trong thành phố và ngược lại.
Để kiến tạo một thành phố toàn cầu đậm chất địa phương, các nhà quy hoạch đã phân Tp Hồ Chí Minh thành 6 vùng phát triển, bao gồm:
1. Vùng đô thị trung tâm bao gồm các quận 1, 3, 4, 5, 6, 8, 10, 11, Phú Nhuận và Bình Thạnh, diện tích 172 km², dân số dự kiến 5,4–6,05 triệu người vào năm 2040. Khu vực lịch sử Lê Lợi – Nguyễn Huệ và trung tâm mới trên bán đảo Thủ Thiêm giữ vai trò trung tâm vùng và trung tâm của cả thành phố, nơi tập trung tài chính, hành chính, các quảng trường lớn và mạng lưới các công trình di sản. Khu vực này sẽ được cải tạo theo hướng tăng cường giao thông công cộng và giao thông xanh (xe đạp, đi bộ), mở thêm nhiều tuyến phố đi bộ và không gian xanh, nhất là theo hướng kết nối ra bờ sông Sài Gòn. Các di sản trong khu vực đô thị lịch sử được bảo tồn theo cụm để tạo ra những trải nghiệm đô thị có chiều sâu về văn hóa và lịch sử.

2. Vùng đô thị phía Đông – đô thị đổi mới sáng tạo trải rộng 211 km², dự kiến đạt khoảng 2,64 triệu dân vào năm 2030 với nhiều trung tâm nghiên cứu, các trường đại học, các khu công nghệ, khu đô thị chất lượng cao, trung tâm logistic và cảng biển ở Cát Lái và Long Bình và những khu cụm văn hóa-thiết kế-dịch vụ cao cấp đầy sôi động. Bên cạnh Thủ Thiêm sẽ là trung tâm thương mại – dịch vụ của cả thành phố, vùng phía Đông sẽ có trái tim ở khu vực Trường Thọ nơi có cơ hội trở thành phòng thí nghiệm đô thị của tương lai. Trung tâm Trường Thọ có không gian phát triển rộng lớn với khả năng mở rộng sang Thanh Đa và Rạch Chiếc.
3. Vùng đô thị phía Tây gồm huyện Bình Chánh và quận Bình Tân, tổng diện tích 252 km² với khoảng 3,10 triệu dân. Hệ thống kênh rạch của vùng giống như ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Các tuyến kênh thẳng theo hướng Đông – Tây sẽ được giữ lại, tạo thành tuyến kênh đô thị còn các tuyến Bắc – Nam sẽ được tự nhiên hóa, mềm hóa để làm chậm dòng chảy và trữ nước. Với vai trò là cửa ngõ phía Tây của Tp Hồ Chí Minh, trung tâm của vùng chính là cụm TOD Tân Kiên được phát triển xung quanh nhà ga đường sắt Tp Hồ Chí Minh – Cần Thơ, tích hợp 2 tuyến đường sắt đô thị và kết nối với nhiều tuyến cao tốc và quốc lộ trong vùng.

4. Vùng đô thị phía Bắc bao gồm quận 12, huyện Hóc Môn và huyện Củ Chi với diện tích 579 km², quy mô dân số 2,30 triệu người. Đây là vùng có quỹ đất nông nghiệp lớn nhưng đang bị thu hẹp nhanh chóng vì tình trạng đô thị hóa tự phát. Đồ án QHC đã đưa ra định hướng thiết kế đô thị nhằm giữ gìn những đặc trưng của đô thị gắn với nông nghiệp, nhấn mạnh tới kết nối cảnh quan và vai trò của chợ như là một không gian công cộng quan trọng nhất. Với địa hình cao, nhiều không gian xanh, bao quanh bởi các tuyến sông chính và việc hình thành các tuyến giao thông tốc độ cao bao gồm Vành đai 3, Vành đai 4, cao tốc Tp Hồ Chí Minh – Mộc Bài và đường sắt đi Tây Ninh, đô thị hóa vùng phía Bắc sẽ tăng tốc. Trung tâm của vùng được xác định ở vị trí giáp ranh giữa huyện Hóc Môn và Củ Chi hiện nay, nơi có cảnh quan đẹp, quỹ đất lớn, không xa trung tâm Hóc Môn lịch sử và điểm giao cắt của các tuyến giao thông huyết mạch.

5. Vùng đô thị phía Nam bao gồm quận 7 và huyện Nhà Bè, diện tích 194 km², dân số 1,35 triệu. Đây là khu vực có cơ hội kiến tạo một đô thị tầm quốc tế không chỉ bởi những dự án đầu tư sẵn có mà còn vì cảnh quan vùng ngập nước độc đáo. Tuy nhiên khu vực này cũng đối mặt với thách thức môi trường bởi nằm trên hành lang thoát lũ của thành phố và có nền đất yếu. Các nhà quy hoạch đề xuất phát triển khu vực này như một chuỗi những hòn đảo hình bát úp giữa vùng ngập nước, hình thành các đô thị gắn với giao thông công cộng (TOD) trên mỗi đảo và giữ cho ranh giới giữa đất và nước được tự nhiên và linh hoạt như trước khi phát triển. Phú Mỹ Hưng đóng vai trò là trung tâm của vùng với sự gia tăng kết nối với các trung tâm khác của Tp Hồ Chí Minh bằng các tuyến giao thông công cộng và với sân bay Long Thành thông qua cầu Phú Mỹ 2 và cao tốc Bến Lức – Long Thành nhằm phát huy vai trò một đô thị quốc tế của khu vực.

6. Vùng đô thị ven biển chính là khu vực huyện Cần Giờ với quy mô 732 km² và 600.000 dân vào năm 2040, chủ yếu tập trung vào khu vực Phước Khánh phía Bắc và khu vực Cần Thạnh phía Nam. Phần lớn diện tích của vùng là khu bảo tồn sinh quyển rừng ngập mặn và nông nghiệp. Định hướng thiết kế đô thị cho vùng khuyến nghị một hồ chứa nước ngọt nằm giữa phần đất liền hiện hữu và khu vực lấn biển, vừa gia tăng giá trị cảnh quan và đất đai, vừa tạo nguồn nước ngọt tại chỗ để phục vụ nhu cầu của đô thị hóa. Đồ án cũng định hướng thử nghiệm đô thị nổi, giành không gian cho điện tái tạo và bảo tồn các không gian tâm linh đặc trưng của thị trấn ven biển xưa.

Định hướng sáu vùng cho phép Tp Hồ Chí Minh giảm tải lõi di sản, đồng thời phân bổ công bằng việc làm và dịch vụ cho toàn không gian đô thị, mở ra cơ hội đón nhận những đầu tư mới. Khi kết hợp với hệ thống giao thông công cộng có sức chở lớn, mô hình đô thị đa tâm này không chỉ giải quyết các điểm nghẽn về giao thông, ngập lụt, ô nhiễm và thiếu không gian xanh mà còn tạo dư địa để thành phố tiến tới trở thành một thành phố toàn cầu (global city).




EN